Bùng nổ cửa hàng không nhân viên ở Singapore







Áp lực từ chi phí thuê mướn lao động tăng vọt đã làm bùng nổ những cửa hàng tự động, không cần nhân viên phục vụ tại Singapore.

Một số nhà bán lẻ ở Singapore đang chạy đua để tự động hóa dịch vụ trong cửa hàng. Đơn cử như giải pháp tự thanh toán, giúp giảm thời gian chờ đợi cho khách hàng. Đối với họ, đây là giải pháp hàng đầu để thích ứng với tình trạng thiếu hụt lao động, dẫn đến chi phí nhân công tăng cao ở đảo quốc này.


Cheers, một chuỗi cửa hàng tiện lợi địa phương, đã mở thí điểm một cửa hàng không nhân viên vào hồi tháng 7 trong khuôn viên một trường đại học. Cửa hàng có một khu vực lắp các máy bán thức ăn nóng tự động, từ cơm chiên cho đến pizza. “Rất nóng sốt và ngon miệng. Tôi thấy rất thuận tiện để mua sắm một cách nhanh chóng thế này”, một sinh viên cho biết.


Cửa hàng còn có khu vực máy tự thanh toán để khách hàng mua các sản phẩm khác vì không có nhân viên nào ở đây. Để đảm bảo an ninh, cửa hàng được quản lý thông qua ứng dụng. Khách hàng cần cài ứng dụng của nhà bán lẻ. Họ phải dùng ứng dụng để quét mã QR khi vào và rời khởi cửa hàng. Nhà bán lẻ cũng tận dụng tối đa các dữ liệu số, bao gồm theo dõi hành vi người mua qua camera cũng như tự động yêu cầu bổ sung hàng để lắp đầy các kệ.

NTUC FairPrice Co-operative 
(cũng là đối tác của Co.op Mart), nhà điều hành chuỗi bán lẻ này cho biết, cửa hàng không nhân viên kết hợp với thanh toán không tiền mặt có thể tiết kiệm được 180 giờ thuê lao động một tuần. Mặc dù chỉ mới thí điểm nhưng công ty cũng đang chuẩn bị mở rộng mô hình này tại Singapore.Hướng đi này còn giúp công ty phân bổ lại nguồn nhân lực, tập trung vào những công việc có giá trị cao hơn. Theo đó, lao động sẽ chủ yếu tham gia vào các khâu như quản lý chuỗi cung ứng (logistics) quan hệ khách hàng, tiếp thị kỹ thuật số hay phân tích dữ liệu.

Các hệ thống siêu thị tại Singapore cũng bắt đầu tự động hóa để giảm bớt sự phụ thuộc vào việc thuê mướn lao động. Đã có 63 trên 140 siêu thị thuộc hệ thống FairPrice
  có hệ thống tự thanh toán.
Sheng Siong Group, một chuỗi siêu thị giá cả phải chăng cũng tự động hóa một phần quá trình thanh toán. Thay vì nhân viên thanh toán thu nhận, đóng gói hàng hóa và thu tiền người mua thì nay khách hàng có thể trả tiền cho hóa đơn qua máy thu tiền. Có 22 trong số 43 siêu thị của hệ thống này đã triển khai.


Một số nhà bán lẻ thậm chí còn từ bỏ mô hình cửa hàng truyền thống với nhân viên phục vụ và tính tiền. Kalms, một nhà bán lẻ chuyên về quà tặng của Singapore năm ngoái đã đóng tất cả các cửa hàng có nhân viên sau khi phải vật lộn với chi phí thuê nhân công cao.
Hiện tại, công ty tập trung vào mảng thương mại điện tử và các máy bán hàng tự động. Từ tháng 11/2016, công ty lắp các máy bán hàng tự động tại các khu vực trung tâm, các trạm tàu điện để kinh doanh đồ phụ kiện, đồ chơi mềm và một số mặt hàng quà tặng khác.


Các nhà bán lẻ ở Singapore buộc phải tự động hóa cửa hàng, siêu thị do áp lực từ cuộc khủng hoảng lao động. Trước đây, lĩnh vực bán lẻ phụ thuộc khá nhiều vào lao động nước ngoài. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, chính phủ nước này đã siết chặt việc cấp phép lao động nước ngoài vì làn sóng phản đối của người dân.
Kết quả, ngành bán lẻ thiếu nhân lực và chi phí thuê mướn nhân công tăng vọt.
Đẩy mạnh tự động hóa cũng phù hợp với định hướng chính phủ Singapore với mục tiêu nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động suốt đời. Người lao động nước này đang nhận được các hỗ trợ tài chính để nâng cao kỹ năng. Ý tưởng ở đây là, trong khi tự động hóa thay thế con người ở một số công việc thì chính những người đó sẽ có thời gian để cập nhật kỹ năng mới, chuyển sang công việc có trình độ và mức lương cao hơn.


Tìm hiểu các 
dịch vụ và giải pháp từ Bàn Tay Số tại: http://www.bantayso.com


Cách dùng tiếng Anh "lạ" ở châu ÂU


Mỗi ngành nghề đều có một số thuật ngữ hoặc cách dùng từ ngữ riêng, nhưng không phải ngành nào cũng cần phải giao tiếp trao đổi với nhau mỗi ngày.

Liên minh EU dịch thuật và soạn thảo các văn bản sử dụng tiếng Anh một cách rất “riêng”. Một báo cáo năm 2013  chỉ ra một số đặt điểm khác thường của tiếng Anh “phong cách châu Âu”, “sau nhiều năm, các cơ quan ở châu Âu đã phát triển một hệ thống từ vựng khác với các kiểu tiếng Anh phổ biến.
Phần lớn các từ vựng lạ như vậy là hệ quả của việc dịch thuật sai sót hoặc lỗi của những người nói tiếng Anh nhưng không phải bản xứ. Các từ này nghe qua có vẻ hợp lý tuy nhiên lại khác với phần lớn của thế giới.  Bởi vì các văn bản trong khối EU ảnh hưởng cách soạn thảo các văn bản khác cũng như cách tiến hành các buổi thảo luận, những cách dùng từ kỳ lạ này có xu hướng được truyền bá rộng rãi cho đến khi chúng trở thành thuật ngữ trong công việc. Sau đây là 11 ví dụ các từ được sử dụng trong văn bản khối châu Âu theo cách đặc biệt.

1. TO PRECISE/PRECISION




The Committee urges the Commission ... to precise which period before confinement is meant.
Without further precisions, this could lead to support for poorly justified financial instruments.


“Precise” đôi khi được dùng trong các văn bản khối EU như một động từ để chỉ việc “làm rõ”. Từ này cũng có nghĩa tương tự khi ở dạng danh từ, “precision”— sự làm rõ, sự bổ sung chi tiết.



2. DISPOSE OF

The Commission may not be able to assess the reliability of the data provided by Member States and may not dispose of independent information sources.

Có một xu hướng mới ở EU đó là sử dụng dispose of không phải với nghĩa như "get rid of,"-bỏ, loại bỏ mà là “có” hoặc “sở hữu” ( một thứ gì). Cách sử dụng này rất có thể đến từ việc chúng ta thường nói : to have at one’s disposal với nghĩa "have free use of." Trong tiếng Anh thông thường cách sử dụng từ ngữ như thế này không khả thi.


3. IMPORTANT



The annual accounts give detailed information on the financial corrections confirmed, implemented and to be implemented and explain the reasons for which an important amount is still to be implemented.

“Important” đôi khi được sử dụng với nghĩa to lớn, vĩ đại. Một thứ gì đó to lớn có thể sẽ  quan trọng, nhưng từ important thường mang nghĩa “crucial”-quan trọng, có ảnh hưởng tới những thứ khác hơn là từ “significant”-vĩ đại, tráng lệ. Điểm khác biệt này không quá ảnh hưởng đến nghĩa trong câu và nếu người nói không phải là người bản xứ, điều này có thể bỏ qua được.

4. OPPORTUNITY

The Court questioned the opportunity of introducing these measures in such an uncertain economic climate.

Ở đây từ “opportunity” mang nghĩa "the quality of being opportune,"- đúng lúc, đúng thời điểm  or "opportuneness." Theo quy tắc cách ghép từ thông thường, từ này mang nghĩa như vậy là hoàn toàn hợp lý, nhưng từ lâu người ta đã quy định sẵn ý nghĩa của từ “opportunity” - cơ hội. 

5. PUNCTUAL

The management of the above mentioned feed sectors is subject to close co-operation with the Member States through regular (generally monthly) meetings of the Standing Committee on the Food Chain and Animal Health, section on Animal Nutrition, and punctual expert groups meetings where appropriate.

Punctual nên có nghĩa là "point by point," hoặc "from time to time," như trong tiếng Đức và các ngôn ngữ khác trong khối châu Âu. Tuy nhiên trong tiếng Anh chúng ta chỉ sử dụng nó với nghĩa là “đúng giờ hẹn”. Trong các văn bản khối EU nó được dùng như từ “occasional” hoặc “periodic”. 

6. ACTUAL

This appropriation is intended to cover basic salaries of the staff, as listed in the attached table, based on the actual regulations and on the probable adjustments.

“Actual” nổi tiếng là một trong những từ "false friend"( hai từ giống như nhau trong hai ngôn ngữ nhưng mang nghĩa hoàn toàn khác- tưởng là bạn nhưng không phải bạn) . Nhìn từ này giống như từ trong tiếng Pháp (hoặc Đức hoặc Tây Ban Nha) nhưng mang nghĩa giống như “real” hay “existing”- thật, trong các ngôn ngữ khác nó có nghĩa “current” – hiện tại.

7. EVENTUAL

They both opposed an eventual imposition of anti-dumping measures as they considered that it could lead to a cessation of imports of the product concerned from the PRC79.

Một từ “false friend” khác, chúng ta biết đến “eventual” với nghĩa (xảy ra trong một thời điểm trong tương lai)- rốt cuộc, cuối cùng , trong khi ở những ngôn ngữ khác nó lại có nghĩa “possible”- khả thi. Vậy vế “The eventual imposition” có nghĩa một sự khả thi, không phải là một kế hoạch.

8. EXPERTISES

Priority should be given to the ORs’ health system, training and education in order to optimise local human resources and expertises as greatest potential drivers of growth in the ORs83.



Expertise bình thường mang nghĩa của một từ không đếm được  : chúng ta không nói expertises mà phải là “ areas of expertise”- chuyên môn/ lĩnh vực chuyên môn. Trong tiếng Anh khối EU, tuy nhiên, nó lại xuất hiện ở dạng số nhiều.

9. PLANIFICATION

Simplified procedures and better planification should make it possible to even out the caseload under FP6, improving internal control and speeding up processes.

Planification xuất hiện rất nhiều trong tiếng Anh EU. Ở đây một từ khá lạ như “planify” được quy định có nghĩa như từ “plan” trong tiếng Anh– lập kế hoạch.



10. COMITOLOGY

The Commission must draft new rules setting out the powers and workings of the bodies replacing the Committees in the framework of the now-abolished comitology procedure, to ensure that the new system operates properly.

Theo một bài báo cáo có hơn 1253 trường hợp sử dụng từ này trong cơ sở dữ liệu các văn bản EU nhưng “không những từ này không xuất hiện bên ngoài khối EU … mà nó còn được xây dựng từ việc đánh vần sai (committee- ủy ban có hai chữ m và hai chữ t) và phần hậu tố (suffix) có ý nghĩa đặc biệt (-ology/-logy có nghĩa là khoa học nghiên cứu về…  hoặc một môn học về… ). Vì vậy nếu dịch theo nghĩa thông thường, khả năng một người ngoại quốc có thể suy ra được ý nghĩa của nó là rất thấp .” Nó có nghĩa "liên quan tới Ủy ban."

11. ACTORNESS

EU Actorness in International Affairs: The Case of EULEX Mission in Kosovo, Perspectives on European Politics and Society.


Một phát minh khác của khối liên minh châu Âu, “actorness” có nghĩa "có tính chất của một tổ chứ đang hoạt động." Mặc dù từ này khá lạ, nhưng khi sử dụng trong khối EU thì lại khá tiện nếu muốn nói về một khái niệm mà các nước EU thảo luận rất nhiều.

Samsung kiếm tỷ USD từ Apple


Khi iPhone X bắt đầu được bán và review bắt đầu phủ kín các trang web, hầu hết mọi người đều mong đợi được thấy các bài viết so sánh iPhone X và Galaxy S8 như thể không có hãng nào khách có thể được đem ra so sánh. Mặc dù có thể khá bất công với các hãng khác, nhưng việc các trang báo lớn chỉ tập trung vào Apple và Samsung có lý do của họ, bởi vì đây là hai nhà sản xuất smart phone nổi tiếng nhất trên thế giới và có lịch sử đối đầu từ lâu đời.


iPhone X kỷ niệm 10 năm Apple tung ra iPhone
Tuy nhiên, thật trớ trêu khi Samsung lại là nhà cung cấp “nguyên liệu” chính cho những chiếc chiếc iPhone X: màn hình OLED.

Samsung cùng LG dẫn đầu trong công nghệ màn hình OLED, và dù cho LG gần đây vừa đẩy mạnh sản xuất , cho đến đầu năm nay Samsung là nhà sản xuất duy nhất đủ nhân lực (cũng như công nghệ) để sản xuất số lượng mà Apple cần.
Samsung Galaxy S8
Theo tờ Wall Street, Samsung dự định sẽ thu được $110 cho mỗi chiếc iPhone X bán ra. Như vậy hơn 10% giá bán lẻ iPhone sẽ vào túi của Samsung cho mỗi chiếc iPhone X.

Thực tế thì, theo công ty nghiên cứu thị trường  Counterpoint, Apple dự định sẽ bán được 130 triệu chiếc iPhone X trong 2 năm tiếp theo, tức Samsung sẽ thu được gần $14 tỷ. Theo tính toán của một số chuyên gia, Samsung chỉ thu được khoảng  $10 tỷ lợi nhuận từ Galaxy S8 với cùng số lượng. Nói cách khác iPhone X đang mang lại cho Samsung nhiều tiền hơn cả sản phẩm chủ lực của hãng .

Apple, có lẽ vì không muốn tiếp tục giúp đối thủ Samsung nhiều hơn nữa, dự định sẽ chuyển hướng sang hợp tác với LG, đầu tư dây chuyền sản xuất công nghệ OLED dành riêng cho iPhone kể từ 2019.



Tìm hiểu về công ty Bàn Tay số: http://www.bantayso.com/

Cách đánh vần trong tiếng Anh thật kỳ lạ!

Colonel : đại tá

Kể từ giây phút được dạy về âm “e” câm, chúng ta biết rằng niềm tin về phát âm và đánh vần phải giống nhau dường như biến mất, và đó cũng là lúc ta chấp nhận rằng “eight” vần với “ate,” “of” cùng vần với “love,” hay “to” đọc giống như “too” hoặc “two.”Nếu có đôi lần chúng ta khựng lại và tự hỏi tại sao lại có những sự trùng hợp này, sau đó lại tự nhủ, ắt hẳn phải có một nguyên nhân nào đó - những thứ liên quan đến lịch sử, nguồn gốc từ ngữ và thay đổi cách phát âm theo thời gian hay còn gọi là từ nguyên học (etymology). Suy cho cùng, tiếng Anh cũng chỉ là ngôn ngữ, có những thứ về ngôn ngữ mà vốn không có quy tắc. Ví dụ như từ “colonel”?



“Colonel” được phát âm giống như “kernel.” Thật ngạc nhiên phải không? Từ này được bắt đầu bằng việc vay mượn 2 từ ở 2 ngôn ngữ khác nhau. Vào những năm 1500, tiếng Anh vay mượn một loạt từ ngữ về quân đội từ tiếng Pháp, những từ như là cavalerie, infanterie, citadelle, canon, và tất nhiên là, coronel. Khi đó, tiếng Pháp lại mượn những từ này từ tiếng Ý, sau đó là những chuyên gia trong binh pháp, nhưng khi làm vậy, từ colonello lại chuyển thành coronel.



Tại sao họ lại làm vậy? Một quá trình rất phổ biến tên là dissimilation (sự dị hóa)—khi hai âm giống nhau cùng đứng gần nhau trong một từ, người ta thường đổi một trong hai âm trên thành một âm khác. Ở đây, chữ “l” đầu tiên được đổi thành “r.” Một quá trình ngược lại được thực hiện với một từ Latin  peregrinus (hay từ pilgrim trong tiếng Anh – người hành hương), khi chữ “r” đầu tiên được chuyển thành “l” (bây giờ là peregrino trong tiếng Tây Ban Nha và Pellegrino trong tiếng Ý Italian. Từ này trong Tiếng Anh thừa hưởng chữ “l” trở thành từ pilgrim.)




Sau khi từ tiếng Pháp coronel trở thành một từ trong tiếng Anh, khoảng cuối thế kỷ 16 các học giả bắt đầu dịch các cuốn binh pháp từ tiếng Ý sang tiếng Anh. Lâu dần, người ta bắt đầu đánh vần từ này thành “colonel.” Khoảng giữa thế kỷ 17, phiên bản có hai chữ “l” đã trở thành bản chuẩn, nhưng cách phát âm “r” vẫn được nhiều người biết đến (sau đó nó lại mất đi một nguyên âm, từ kor-o-nel trở thành ker-nel). Cả hai cách phát âm trên đều phổ biến trong một khoảng thời gian, thậm chí còn gây hiểu lầm rằng từ “coronel” có liên quan tới “crown”—khi đó thậm chí từ colonel đôi khi còn được dịch thành  “crowner” trong tiếng Anh. Thực ra, từ gốc là colonna, từ tiếng Ý cho chữ column. Trong khi đó, tiếng Pháp đổi lại thành “colonel,” cả về phát âm lẫn đánh vần (kɔlɔnɛl). 

Theo Mentalfloss

Xem theo nhiều bài viết về ngôn ngữ và dịch thuật tại : 
http://www.dichthuatbts.com/tin-tuc

Tại sao mèo sợ dưa "chuột"?


Nhờ có mạng Internet nói chung và YouTube nói riêng, những chú mèo trên thế giới phát hiện thêm một kẻ thù mới – dưa “chuột”: những quả dưa chuột ngon lành có vẻ hoàn toàn vô hại. Có thể bạn từng vô tình click vào video của một youtuber cố dọa chú mèo của mình bằng dưa chuột và cũng có thể bạn chán ghét hoặc thích thú khi thấy các chú mèo nhảy dựng lên, cào cấu vật lạ hoặc … bỏ chạy. Thật sự thì mèo có sợ dưa “chuột” hay không? Có lẽ nào tổ tiên của chúng từng ăn phải một quả dưa chuột và bị dị ứng, ngứa, hay đau bụng nên chúng trở nên ghét dưa chuột ?
Tội nghiệp chú mèo đang ăn ngon lành
“Không, tôi không nghĩ mèo sợ dưa “chuột” là do di truyền,” theo Mikel Delgado, nhà tư vấn hành vi mèo, chuyên gia nghiên cứu hành vi động vật và quan hệ giữa thú nuôi và con người – nghiên cứu sinh tại Đại học danh tiếng California, Berkeley.Mèo là loài động vật hành động theo thói quen , và Delgado cho rằng những chú mèo trong các đoạn video nói trên—thường bị “mai phục” từ phía sau trong khi đang cặm cụi ăn —chúng đơn giản bị bất ngờ trong khi đang thực hiện hành vi thường ngày .
“Mắt chúng hầu như chỉ hướng về phía trước, cũng giống như con người,” Delgado giải thích. “Đó cũng là cấu trúc chung cho đa số động vật săn mồi—chúng nhìn về phía trước, và không cần quan tâm phía sau cho lắm. Cá nhân tôi nghĩ rằng rất nhiều người không cố tình làm những chú mèo hoảng sợ hoặc họ không lường trước khi họ hành động như vậy đâu. Học chỉ đơn giản đặt một vật lạ đằng sau chú mèo đang thưởng thức bữa ăn, vì đang tập trung nên khi ngừng ăn và quay lại chú ta mới thấy quả dưa chuột”.
Nhìn đáng sợ thế này cơ mà
Những chú mèo bị dọa cũng giống như chúng ta khi xoay lưng lại phát hiện có ai đó đang đứng đằng sau . Nhưng ngay cả khi chúng ta thường cười cợt khi cơn giật mình qua đi, chúng ta cũng không nên đặt những chú mèo của mình vào tình huống như vậy—đặt biệt khi chúng đang ăn. “Bạn sẽ muốn những chú mèo cảm thấy an toàn khi chúng đang ăn,” Delgado cho biết. “Nếu mèo chán ăn, chúng có thể bị bệnh ngay, và sẽ mắc một chứng bệnh được gọi là “gan nhiễm mỡ”.
Ngoài ra, “stress cũng có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe mèo,” Delgado nói thêm. “Có một số nghiên cứu cho thấy một việc bình thường như thay đổi thói quen hàng ngày có thể làm các chú mèo có những biểu hiện bệnh như: nôn mửa, không đi đại tiện, tiêu chảy, đổi khẩu vị. Mèo rất nhạy cảm.”Tuy nhiên, điều này không có nghĩa chúng ta không được cho chúng thấy những món đồ mới (như thay một cái ghế mới cho chiếc ghế mà chú mèo yêu thích chẳng hạn). Nhưng khi làm điều này, bạn nên để cho chúng thời gian tự làm quen với món đồ vật này trước.
mèo biếng ăn rất đáng lo ngại

“Nhiều lúc chủ của các chú mèo muốn chúng biết là những đồ vật này không có gì đáng sợ cả,” Delgado cho biết. “Họ sẽ làm chúng càng trở nên sợ hãi, bởi vì họ đang ép buộc chúng tiếp xúc với một vật mà chúng sợ hãi.”Thời gian trôi qua, vật này sẽ có mùi thân thuộc với chúng, và chú mèo yêu sẽ trở nên thư giãn hơn. Trong lúc này, bạn nên để dành dưa chuột cho bữa tối , và giữ chúng cách xa đĩa thức ăn của các chú mèo. Theo Mentalfloss

Face ID chưa phải là hệ thống nhận dạng cuối cùng


Thay vì quét khuôn mặt, mống mắt hay vân tay, hình dạng trái tim có thể sẽ là mật mã mới để người dùng mở khóa điện thoại thông minh.

Theo NewAtlas, sự ra mắt gần đây của iPhone X và công nghệ mở khóa khuôn mặt đã đẩy vấn đề an toàn sinh trắc học trở lại bàn thảo luận của nhiều nhà nghiên cứu khoa học. Các loại mật khẩu cũ trên điện thoại đang nhanh chóng bị thay thế bởi công nghệ mới gắn liền với cơ thể người sử dụng như dấu vân tay, võng mạc, hay thậm chí là chi tiết khuôn mặt.

Snap chat face ID

Trên thực tế, một số ý tưởng về bảo mật sinh trắc học khác cũng đã được đề cập tới như hệ thống nhận dạng mùi cơ thể, tính năng quét tĩnh mạch hay thậm chí là cả "vân não". Có thể nói, cơ thể con người có rất nhiều dấu hiệu riêng biệt để phân biệt giữa mọi người với nhau, có thể được khai thác dưới dạng mật mã cá nhân. Vào năm 2014, một công ty có tên Nymi đã phát triển một hệ thống sinh trắc học dựa trên tín hiệu điện tâm đồ của người sử dụng thông qua một loại vòng tay. Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Đại học Buffalo đã tiến một bước xa hơn trong việc phát triển một hệ thống radar sử dụng hiệu ứng Doppler trong vật lý để xác định hình dạng và kích thước trái tim của một người.

Password mới có thể là hình dạng trái tim


Wenyao Xu, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: "Không thể tìm thấy hai người có trái tim giống hệt nhau". Ông cũng nói thêm rằng trái tim của người bình thường không bao giờ thay đổi hình dạng trừ khi họ bị bệnh tim nghiêm trọng.

Hệ thống này mất 8 giây để ghi lại kích thước hình học và nhịp đập trái tim của một người, sau đó có thể giám sát liên tục sự hiện diện của người đó mà không cần bất kỳ sự liên hệ cơ thể nào định kỳ.
quét võng mạc

Khả năng của hệ thống cho phép tái xác thực người dùng khiến nó an toàn hơn so với các phương pháp bảo mật thông thường vốn chỉ đòi hỏi một lần đăng nhập duy nhất. Bởi việc chứng thực người dùng liên tục sẽ rất khó khiến thiết bị bị bẻ khóa.

Nhóm nghiên cứu cho biết radar này sử dụng rất ít điện năng và không gây nguy hiểm cho sức khoẻ vì nó có cường độ tín hiệu thấp hơn nhiều so với cả mạng Wi-Fi thông thường.
"Chúng ta đang sống trong môi trường mạng Wi-Fi tràn ngập xung quanh mỗi ngày và hệ thống mới này an toàn hơn cả", ông Xu nói. "Tác động của nó vào khoảng 5 milliwatt, thậm chí nhỏ hơn một phần trăm của bức xạ từ điện thoại thông minh".
Qua nghiên cứu thí điểm với 78 người, hệ thống kiểm tra trái tim này đạt được tỷ lệ chính xác cân bằng là 98,61%, với tỷ lệ lỗi bằng nhau là 4,42%.
Nhóm nghiên cứu nói rằng, sự phát triển của công nghệ sẽ liên quan đến việc thu nhỏ hệ thống để cho phép nó được cài đặt vào bàn phím máy tính hoặc điện thoại thông minh. Hệ thống hiện tại cũng cho phép giám sát một cá thể lên đến khoảng cách 30 mét. Các nhà nghiên cứu cũng gợi ý rằng nó có thể sử dụng trong một số khu vực xác định như sân bay.
Nghiên cứu này sẽ được trình bày vào tháng 10 tại MobiCom, một hội nghị về điện toán di động diễn ra ở Utah, Mỹ.


Điện thoại ngăn gián điệp của Nga

50.000 chiếc điện thoại Taiga chuẩn bị được cấp cho nhân viên tại các công ty mà chính phủ Nga đồng sở hữu.

Tên máy được đặt theo tên khu rừng Taiga

Theo Bloomberg, Taiga do InfoWatch, có trụ sở tại Moscow (Nga), phát triển. Tên máy được đặt theo tên khu rừng Taiga ở vùng Siberia với vẻ đẹp kỳ thú, bí ẩn cùng những dãy núi hiểm trở.

Điện thoại này có khả năng ngăn phần mềm Google và các ứng dụng khác theo dõi, thu thập thông tin người dùng. Máy cũng tích hợp tính năng cho phép nhà quản trị, như bộ phận IT trong một cơ quan, có thể kiểm soát các ứng dụng nào sẽ được phép hoạt động trên thiết bị và nội dung nào người dùng có thể truy cập, chia sẻ...
"Hầu hết các ứng dụng smartphone đang thu thập dữ liệu nhất định từ người sử dụng và gửi đến máy chủ từ xa", Natalya Kaspersky, đứng đầu InfoWatch, nhấn mạnh. "Khi người dùng mang điện thoại cá nhân đến nơi làm việc, hòm thư nội bộ, tài liệu và những hình ảnh liên quan đến công việc có thể có nguy cơ bị rò rỉ tới bên thứ ba, một cách vô tình hoặc do nhiễm mã độc".

điện thoại Taiga 

50.000 điện thoại Taiga sắp được cấp cho nhân viên trong các công ty nhà nước ở Nga. Những thiết bị này được sản xuất ở Trung Quốc. InfoWatch cho hay, thị trường tiềm năng tiếp theo của họ là Malaysia và UAE.

Natalya Kaspersky là nhà đồng sáng lập và từng là CEO của công ty bảo mật Kaspersky Lab trước khi ly dị chồng là Eugene Kaspersky.
Hai tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra lệnh cấm sử dụng các sản phẩm của Kaspersky trong chính phủ Mỹ với lý do hãng này có mối quan hệ chặt chẽ với chính phủ Nga. Trong khi đó, từ tháng 11/2016, điện Kremlin đã hậu thuẫn cho kế hoạch thay thế phần mềm Microsoft trong các cơ quan chính phủ Nga.